Hiển thị các bài đăng có nhãn bài báo hay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài báo hay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Cái tát trong Ngày Nhà giáo

Một bài viết nhân ngày nhà giáo thật ý nghĩa......

Lời tòa soạn: Hai mẩu chuyện sau đây không chỉ là chuyện mà là những bài học làm người. Tôn sư trọng đạo là bài học muôn đời làm nên cốt cách dân tộc, đất nước. Để được vậy, xã hội cần phải có những con-người-học-tập và những "cú tát" như thế.

1. Nhà hắn thuộc dạng “khó ba đời”. Ba hắn xưa là ông giáo làng, thất chí nên bỏ việc, về cày ruộng. Mấy mảnh đất màu trồng rau đậu và vài sào ruộng chỉ đủ nuôi 5 miệng ăn. Gặp khi bão lũ, sâu bệnh thì mùa màng mất trắng. Cả nhà phải bữa đói bữa no, một hạt cơm “cõng” bốn năm lát sắn.

Mẹ bệnh liên miên. Mấy anh chị đã có gia đình riêng, đều nghèo kiết xác. Hắn phải phụ ba mọi việc. Ba bảo đừng làm nữa, lo mà học hành. Nghèo thì phải lo học, “không thì cả đời làm kiếp ngựa trâu cày bục mặt như bố mẹ”. Hắn không sợ nghèo, chỉ sợ không có điều kiện học. Mà không có điều kiện thật. Năm hắn chuẩn bị thi tốt nghiệp cuối cấp THCS, trời hạn kinh khủng. Mất mùa, cả làng đói, nhà hắn cũng ăn khoai sắn cầm hơi. Rồi đến lúc không còn khoai sắn mà ăn. Mẹ phải ăn cháo lỏng. Hắn đứng nép sau phên tre, nhìn mẹ ôm bụng nhăn nhó đau mà nước mắt chảy ròng ròng. Giọt nước mắt thằng con trai tuổi đang lớn đong đầy sự tủi thân.

Không tiền đóng học phí, không tiền ăn học, hắn quyết định nghỉ, “đút vở bụi tre”, lên thành phố kiếm cơm.

Trước khi lên thành phố, hắn đến thăm cô Loan dạy Văn. Hắn là đứa học trò cô Loan thương nhất vì nhà nghèo, hiền ngoan, học khá. Vừa thưa chuyện, cô Loan đã tát một cái làm hắn nảy đom đóm. Cô giận. Hắn khóc. Đoạn, cô dúi vào tay hắn một xấp tiền mỏng. "Em nghỉ học mấy ngày qua, cả lớp đều biết. Các bạn gom góp mỗi người một chút tặng em đóng học phí…”.

“Một chút” của các bạn, ấy là mỗi người một rổ khoai, nửa ang lúa, một bó mía, một lọn củi…, trong đó có cả phần của cô Loan. Nhà ai cũng nghèo sát đất như nhà hắn chứ có khá gì hơn. Cô Loan gom lại, chở hết xuống chợ huyện bán, lấy tiền đem về.
Hắn cầm xấp tiền tình nghĩa, thầm nghĩ: Cái sự học cao quý là thế lẽ nào hắn dám bỏ, trong khi cô giáo và bạn bè hết lòng lo cho hắn. Cái tình người, tình bạn trong lúc hàn vi cao cả là thế, nỡ nào hắn “phụ bạc”.

Hắn quyết định phải học. Học thật giỏi.
Mười năm sau, hắn trở về. Nơi thứ hai hắn ghé thăm sau khi về nhà mình là cô Loan. Ấy là dịp 20-11, trên tay hắn là một món quà hết sức đặc biệt, được bỏ trong một chiếc bao tải to.

Trong đó là một rổ khoai, nửa ang lúa, một bó mía, một lọn củi… Món quà tựa ngày xưa. Bạn bè năm cũ không hẹn mà gặp, cùng tụ tập ở nhà cô Loan đông đủ. Cùng nhìn món quà “lạ”, cùng kể về cú tát năm xưa, mọi người phá lên cười sung sướng!
“Lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “nhân bất học bất tri lý”… Ôi, hiểu và làm được theo những lời răn dạy ấy, tình người, tình đời đẹp biết bao nhiêu…

2. Hắn là con nhà giàu sụ. Mẹ kế nghiệp nhà ngoại, buôn bán tơ vải, trúng quả quanh năm. Ba hắn làm sếp ở một công ty Nhà nước, bận rộn tối ngày. Nhà giàu nứt đố đổ vách, hắn lại là con một nên được cưng như trứng, hứng như hoa. Bận bịu làm ăn, ba mẹ thuê đến 3 người giúp việc. Một người lo chuyện nhà, một người lo chợ búa cơm nước và một người để hắn… sai vặt!

Sợ con học kém, ba mẹ hắn tìm thêm một gia sư, dạy kèm cho hắn cả 5 môn toán, văn, lý, hóa, ngoại ngữ.

Từ năm lớp 6 đến lớp 8, hắn học khá. Cũng có “gen” học, cũng phần vì sợ bị bạn bè chê “giàu mà dốt” nên hắn cắm đầu học.

Nhưng rồi năm lên lớp 9, năm quan trọng nhất của cấp THCS, hắn đâm ra đổ đốn. Ham chơi, ngủ gục trong lớp, hắn học sút hẳn. Bị thầy cô kiểm điểm, giai đoạn đầu hắn mượn tập của bạn về, nhờ… ôsin chép. Nhưng trình độ ôsin có hạn, chịu thua. Hắn nhờ gia sư chép.

Gia sư hắn, một nữ sinh viên sư phạm năm ba, rất giỏi và rất nghèo!
Tất nhiên cô gia sư chẳng bao giờ chiều theo yêu cầu quái đản của hắn. Rồi bản chất của con nhà trọc phú cuối cùng cũng lòi ra khi hắn tuyên bố xanh rờn với cô giáo dạy kèm: “Không chép thì cút !”.

Một cú bạt tai tóe lửa khiến hắn choáng váng. Hắn không ngờ cô giáo dạy kèm dám đánh mình. Lâu nay trong đầu hắn luôn nghĩ cô gia sư cũng như mấy người ôsin kia thôi, chỉ là phận làm thuê, có khác chăng cô có trình độ.

Còn cô gia sư cũng không ngờ mình ra đòn với học trò. Cả năm rồi kèm cặp thằng bé con nhà giàu, cô luôn nghĩ cậu ta cũng như đứa em trai mình. Sẵn sàng dạy dỗ nó hết mình nhưng cũng sẵn sàng la mắng nó, cốt để cho nên người, chứ chẳng dám đòn roi.

Bớt choáng vì cú tát, thằng học trò lập bập tìm điện thoại, chắc là gọi mẹ nó, kể tội. Rồi hắn quay lại, đanh giọng: “Mẹ tôi nói tháng này cô đừng hòng nhận tiền”.
Cô giáo dạy kèm bật khóc, tông cửa chạy ra ngoài. Cô tức không phải vì sẽ mất khoản tiền công kia mà vì đứa học trò vô lễ, vì cái nghiệp bạc, vì cái sự đời éo le…
Ba ngày sau, cũng đúng vào ngày 20-11, cô giáo dạy kèm đang ngồi đọc sách trong phòng trọ thì nghe tiếng gõ cửa. Thật bất ngờ, tìm đến nhà cô là đứa học trò nhà giàu đi cùng bố của nó. Sau màn chào hỏi, ông thưa: “Hôm nọ thằng bé ăn nói thế nào với cô?”.
Cô gia sư kể lại mọi chuyện. Vừa xong, bất ngờ ông ta dang tay tát một cái thật mạnh vào má thằng con mình. “Tôi mà biết sớm thì khi ấy đã nhờ cô tát cho nó một cái nữa, thay cho tôi. Giờ biết chuyện, tôi xin thay cô làm việc đó. Tôi xin lỗi cô vì đã không dạy được nó những điều hay lẽ phải” – ông nói, rồi yêu cầu con nói lời xin lỗi cô giáo.

Đối với cô giáo tương lai này, có lẽ cú tát ấy là món quà ý nghĩa nhất, không chỉ đối với cô mà đối với cả ngành sư phạm, với một bộ phận người không nhỏ trong xã hội. Cú tát như một bài học làm người, nặng ngàn cân, có sức lay động lớn vô cùng.

Và, ông bố của đứa học trò nhà giàu kia, có ai biết rằng chính là cậu học trò nhà nghèo “khó ba đời” năm xưa trong câu chuyện đã kể trên.
An Nhiên

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Cha cưới vợ đi, cha ơi!.......


Thứ Hai, 03/10/2011 08:40

Đầu tháng, cha lặn lội lên thành phố thăm hai chị em. Cha vác một bao lủ khủ nào ốc lác, cua đồng, bông điên điển, khô, mắm… “Cha nghe xã thông báo năm nay nước lớn hơn mọi năm nên cha phải ở nhà lo hộ đê, cứu lúa. Sợ tụi con trông nên cha lên sớm”- cha vừa trút mọi thứ ra, vừa bảo.

Mẹ tôi đã vĩnh viễn nằm lại đâu đó giữa đồng nước mênh mông...

Tôi nhìn mái tóc đã qua bao mùa mưa nắng của cha mà không khỏi nao lòng. Bé Ba, em tôi buộc miệng: “Cha ơi, sao bữa nay tóc cha bạc nhiều quá vậy? Lần trước cha lên đâu có? Cô Út có qua thăm cha không?”. Bé Ba hỏi dồn nhưng cha vờ như chẳng nghe, vẫn tiếp tục hết sắp cái này, lại soạn cái kia… Cuối cùng, tôi phải lên tiếng: “Cha ơi, dạo này cô Út ra sao rồi? Cô có hay qua thăm cha không?".

Đến nước này thì cha phải trả lời: “Lâu rồi không thấy qua...”. Cả tôi và Bé Ba đều ngạc nhiên: “Sao vậy cha?”. Cha nhíu mày: “Cái gì mà sao với trăng? Cha biểu cổ đi lấy chồng nên cổ giận”.

Cô Út là người ở cùng xóm với nhà tôi. Từ ngày mẹ tôi mất, cô đã tới lui thăm nom, chăm sóc 3 chị em tôi. Không chỉ trong gia đình mà bà con chòm xóm đều nói vào. Vậy mà cha vẫn làm thinh. “Cha nói vậy thì cô Út giận là phải rồi. Thôi, cha về làm lành với cô Út đi”- Bé Ba thủ thỉ. Nhưng cha lắc đầu: “Già rồi chớ có phải con nít đâu mà giận hờn...”.

Có lẽ vì vậy mà tóc cha bạc đi nhiều. Lần này lên thăm hai chị em, cha không vui như những lần trước. Tôi không nhắc nữa nhưng hôm sau, khi đưa cha ra xe trở về Cao Lãnh, tôi ngập ngừng: “Cha à, con kiếm được việc làm rồi, có thể phụ cha lo cho mấy đứa nhỏ... Mẹ con mất cũng lâu rồi. Con thấy cô Út thương cha thật lòng. Cha ơi, cha cưới vợ đi cha... ”. Cha tôi quay đi, mãi lát sau mới trả lời: “Cha cũng biết vậy nhưng cha không quên được mẹ... Phải chi hôm đó cha không bịnh thì mẹ đâu phải ra đồng...”.
Chuyện xảy ra đã hơn 10 năm mà cha cứ day dứt. Nửa đêm hôm đó cha bị sốt, đến sáng thì mệt lả không đi thăm lưới được. Trời mưa lâm râm, mẹ chèo ghe đưa tôi và Bé Ba qua sông đi học. Khi quay về, mẹ dặn: “Lát trưa tụi con quá giang người ta về nghen. Cha bịnh, mẹ phải đi thăm lưới rồi ra chợ xã mua thuốc cho cha nên không kịp rước tụi con”.

Mẹ quay về một lát thì trời nổi giông mưa. Gió mạnh đến nỗi mấy cây phượng trong sân trường bị trốc gốc. Nhà trường cho học sinh nghỉ học nhưng phải quá trưa, chúng tôi mới tìm được ghe để quá giang qua sông về nhà.

Đến nhà, thấy bếp núc lạnh tanh, cha nằm thiêm thiếp trong buồng, còn mẹ và em út không thấy đâu, tôi gọi cha dậy: “Cha bớt bịnh chưa? Mẹ đâu cha?”. Đến lúc ấy, cha tôi mới giật mình. Trời đang mưa, người đang sốt xật xừ mà cha cứ lao ra bờ kênh...

Xế chiều, mấy người đi hái bông điên điển bắt gặp chiếc ghe trên đó có một đứa bé chừng 4-5 tuổi nằm thoi thóp, sợi dây cột chặt chân nó được luồn qua cái lỗ lù của chiếc ghe. Một rổ bông điên điển, mấy con cá mắc lưới có con đã chết nằm phơi bụng... Người ta đưa thằng bé về trạm xá của xã. Có người quen nhận ra nó là thằng em út của tôi. Đêm đó, cả xóm đốt đuốc đi tìm mẹ tôi. Còn cha tôi thì chống xuồng quần nát cánh đồng sau nhà... Nhưng mẹ tôi đã vĩnh viễn nằm lại đâu đó giữa đồng nước mênh mông...

Sau này cha tôi kể lại, sáng đó, nghe mẹ nói đi thăm lưới, cha đã rầy: “Bỏ một bữa đi, có sao đâu”. Nhưng mẹ không chịu: “Uổng lắm! Ba nó vô nằm nghỉ đi, em gỡ lưới xong là về liền”. Lúc đó cha mệt quá nên cũng không đủ sức cản mẹ: “Ừ, nhớ về sớm; phải cột thằng nhỏ lại, không thôi nó té...”.

Cha vô nhà, mệt quá nằm thiếp đi. Không ngờ đó là những lời cuối cùng cha nói với mẹ... Không ai biết chuyện gì đã xảy ra giữa đồng nước Tháp Mười hôm đó, ngoại trừ thằng út. Nhưng nó còn quá nhỏ để giải thích mọi chuyện. Sau này, thỉnh thoảng chúng tôi nhắc mẹ thì nó bảo: “Mẹ té xuống nước rồi mất tiêu luôn. Em kêu lớn lắm mà mẹ không nghe...”.

Mẹ mất, cha lầm lũi như một cái bóng. Cứ đến mùa nước nổi, cha lại ra bờ kênh ngóng tìm. Có hôm cha uống rượu rồi chống xuồng đi tới khuya... Có lần, cô Út phải đưa cha về.

Thoạt đầu chúng tôi rất ghét cô Út vì sợ cô sẽ trở thành mẹ kế của mình. Tôi rất ám ảnh với nhân vật Tào Thị trong chuyện Tấm Cám nên hễ thấy mặt cô Út là chúng tôi hấy nguýt, gầm gừ...

Năm tôi mười lăm tuổi, cha bảo sẽ cho hai chị em tôi ra thị xã học nhưng tôi nhất định không chịu mà đòi học ở thị trấn. Tôi dấm dẳn: “Cha bắt con đi để ở nhà cha rước bà Tào Thị về hả?”. Cha ôm hai chị em tôi vào lòng: “Cha muốn lo cho tương lai của các con chớ không muốn rước ai về hết. Phải học thì mới thoát khỏi cảnh nghèo đói như cha mẹ...”.

Nói vậy rồi cha lặng thinh, tôi biết cha lại nhớ mẹ.

Thế là tôi không dám cãi. Nhưng để ngăn chặn từ xa, hai chị em tôi cứ đột kích về liên tục. Từ thị xã phải đạp xe gần hai chục cây số mà tôi và Bé Ba cứ thay nhau về. Giờ giấc về cũng không cố định, khi cuối tuần, khi giữa tuần, có khi 8-9 giờ tối về rồi sáng sớm hôm sau lại đi... Và một trong những lần đột kích ấy, tôi đã bắt gặp tại trận cha và người phụ nữ ấy.

Hôm đó tôi về tới nhà thì đã gần 10 giờ đêm. Vừa mệt, vừa đói nhưng không thấy cha, tôi bực dọc đi tìm. Kết quả là tôi thấy cha và cô Út ngồi ngoài bờ kênh. Tôi quyết rình xem họ nói gì với nhau. Tôi ngồi rất lâu mà chẳng nghe hai người nói gì, chỉ có tiếng cô Út khóc tấm tức. Rất lâu sau, cha mới lên tiếng: “Tôi biết Út thương tôi nhưng ngặt nỗi mấy đứa nhỏ không chịu... Thôi, Út coi chỗ nào đàng hoàng thì ưng đại đi. Lớn tuổi rồi còn kén chọn làm gì...”.

Nghe đến đây, tôi lẳng lặng bỏ vô nhà. Từ hôm đó, tôi không còn ghét cô Út nữa, cũng không “đột kích” về bất tử để rình xem cha có chặt dạ với mẹ không... Dần dà, cả ba chị em tôi đều thương cô Út lúc nào không hay.

Ngày tôi thi đậu đại học, trước lúc lên Sài Gòn học, tôi đã qua nhà cô: “Trước đây tụi con có gì không phải, cô bỏ qua cho tụi con nghen. Con muốn cô về bên nhà con ở với cha cho vui...”. Nhưng cô lắc đầu: “Không được đâu con. Cha con chặt dạ lắm”.

Tôi lên Sài Gòn học được hai năm thì Bé Ba cũng thi đậu đại học. Cha quyết định thuê nhà cho hai chị em ở vì “ở ký túc xá thì mỗi đứa một nơi, cha không yên tâm”. Tôi biết, để có tiền tháng tháng gởi cho chúng tôi trả tiền nhà, cha phải làm lụng rất nhiều. Thương cha, hai chị em vừa học, vừa kiếm việc làm thêm.

Bé Ba có khiếu “gõ đầu trẻ” nên nhận dạy kèm cho mấy đứa học trò tiểu học, còn tôi thì được nhận vào làm chân chạy bàn ở một quán ăn. Tiền kiếm được cũng đủ trang trải học phí và mấy thứ linh tinh. Khi biết chuyện, cha nổi giận: “Cha còn đủ sức lo cho tụi con mà!”. Thấy cha giận, chúng tôi hoảng quá, không dám trả lời nhưng từ đó, tháng tháng nhận tiền cha gởi lên, hai chị em không xài gì mà đem gởi tiết kiệm. Bé Ba nói: “Mình để dành cưới vợ cho cha nghen chị hai”. Tôi tán thành: “Ừ, em nói phải đó”.

3 năm qua, số tiền đó giờ có thể sắm được một lượng vàng. Tôi bàn với Bé Ba: “Chị hỏi bác Năm chủ nhà rồi. Đám cưới thì phải có nhẫn, có bông, dây chuyền. Rồi còn phải sắm sửa đồ đạc cho cô dâu nữa...”. Nói đến hai tiếng “cô dâu” hai chị em tôi ôm bụng cười vì tưởng tượng ra cảnh đám cưới cha và cô Út.

Cách hôm cha tôi lên hai tuần thì hai chị em tôi tranh thủ thứ bảy chạy về nhà. Thấy chúng tôi, cha hết hồn: “Có chuyện gì mà về bất tử vậy con?”. Bé Ba không nói không rằng chạy vô bếp lục cơm nguội, còn tôi thì làm mặt nghiêm trọng: “Có chuyện tụi con mới về. Cha lên nhà trên đi, con nói chuyện này cho cha nghe”.

Tôi vào đốt nhang cho mẹ rồi bảo cha ngồi xuống trước bàn thờ. Tôi khấn mẹ: “Mẹ ơi, hôm nay tụi con về xin phép mẹ đi cưới vợ cho cha. Cha bây giờ yếu rồi mẹ à. Tụi con ở xa, không có ai chăm sóc cho cha. Lỡ cha đau ốm bệnh tật thì biết làm sao... Con thấy cô Út thương cha thiệt lòng, mẹ cho phép chúng con rước cô về sống với cha nghen mẹ...”.

Tôi chỉ nói được đến đó thì nghẹn ngào, còn cha tôi thì đứng dậy bỏ ra ngoài.

Đêm đó, cha ngồi rất lâu trên bờ kênh. Gió thổi nhiều, cha lạnh ngồi co ro nên thấy dáng cha thêm gầy gò, tội nghiệp...
Cha hứa rồi, đợi đến đám giỗ mẹ năm nay, cha sẽ qua rước cô Út về.

Mấy chị em tôi rất mừng vì ngày ấy không còn xa nữa...
Thêm một bài viết hay đem lại xúc động cho người đọc....
Sa Giang
(http://nld.com.vn/20111001100730628p0c1030/cha-cuoi-vo-di-cha-oi.htm)

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Lắng đọng....Người tình của Cha......

Bài viết thật mộc mạc nhưng mình thấy thật hay và thật cảm động .Có thể nói khi đọc xong ai cũng sẽ lắng đọng một chút gì cho riêng mình ....Mời đọc bài viết dưới đây của tác giả Tuyết Anh đăng trên báo NLĐ


Người tình của cha
Thứ Tư, 24/08/2011 08:15
Mẹ nhịp nhịp cái roi tre lên mông chị ta: “Nè, cô có biết anh Tám là chồng tui không? Biết sao còn dám rù quến? Đàn ông nào cũng có thói trăng hoa, không ít thì nhiều. Chồng tui không có lỗi... Tui đánh cô 20 roi cho cô chừa”. Người phụ nữ kia run lẩy bẩy nhưng không dám trả treo. Còn mẹ tôi thì chỉ nói được vậy rồi... xỉu!

Cha tôi nói, trong gia đình, quan trọng là người đàn bà. Giữ được êm ấm hay đổ vỡ cũng là do người đàn bà.

Mẹ tôi mất cách nay đã 10 năm. Kể từ ngày ấy, cha chưa một lần rời khỏi cái tổ ấm chứa đựng 50 năm hạnh phúc với 10 đứa con “trứng gà, trứng vịt” của cha mẹ. Cha bảo, cha không muốn đi đâu khi không có mẹ.

Ấy vậy mà vừa rồi thằng Út gọi điện: “Cha nói muốn lên Sài Gòn thăm con cháu một chuyến”. Tụi tôi thấy lo lo. Người ta hay nói, một người già bỗng dưng muốn đi thăm bạn bè, thân hữu, cháu con thì chắc chắc sẽ có thay đổi lớn. Dù vậy, nghe bảo cha chịu đi chơi thì mấy anh em tôi rất mừng, vội vàng mướn xe về đón cha lên. Mấy anh em phân công nhau: cha ở với mỗi đứa 1 tuần. Cứ thế mà xoay tua. Nếu hết tua mà cha vẫn còn muốn ở chơi thì bắt đầu làm lại tua thứ hai. Thỏa thuận xong đâu đấy rồi vậy mà bỗng dưng cha đổi ý: “Cha ở với vợ chồng con Bảy. Trước nay con Bảy nấu ăn giống mẹ, cha vừa miệng nhất”.

Vậy là tôi, con Bảy cuống quýt dọn dẹp nhà cửa để đón cha về. Biết ý cha, ngày nào tôi cũng hỏi: “Hôm nay cha muốn ăn gì để con mua?”. Cha bảo: “Cha lớn tuổi rồi, ăn uống bao nhiêu đâu, gì cũng được”. Tuy cha nói vậy nhưng ngày nào tôi cũng cố gắng đổi món. Hôm thì cá rô kho tộ, bữa thì tôm kho tàu, thịt ba rọi nướng; bữa thì tôi nấu bánh canh, bún bò cho cha ăn... Theo thói quen, hôm nào tôi cũng chờ cha gắp vài đũa rồi hỏi: “Cha ăn được không cha?”. Cha gật đầu: “Con là đứa biết ý cha nhất”. Thấy vậy, 2 thằng con tôi cũng bắt chước. Mỗi khi lên bàn ăn, tụi nó lại tranh nhau hỏi: “Ông ngoại, ngon không ông ngoại?”. Cha tôi xoa đầu hai thằng cháu: “Ngon. Nhưng mẹ con nấu không giống bà ngoại nấu...”.

Sau câu nói, tôi thấy mắt cha rơm rớm. Có lẽ cha nhớ mẹ. Mấy chục năm vui buồn, tôi chưa bao giờ nghe cha mẹ nặng lời với nhau. Cha không bao giờ kêu mẹ bằng “bà” mà gọi bằng “mẹ sắp nhỏ”. Cha kêu như thế dù “sắp nhỏ” của cha mẹ có đứa đã ngót nghét năm mươi tuổi.

Mãi sau này khi mẹ mất, cha mới kể, lúc đầu, khi ông bà nội đi hỏi cưới mẹ cho cha, cha chê mẹ xấu nên đã bỏ đi biệt xứ. Hơn 3 năm sau, cha trở về, thấy mẹ vẫn còn ở vậy. Lân la làm quen, chuyện trò cha mới phát hiện mẹ là một cô gái hiền lành, đảm đang, hiếu thảo. Cha hỏi, sao mẹ chưa chịu lấy chồng thì mẹ trả lời: “Lấy người bạc bẽo như anh thì thà ở vậy còn hơn”. Lúc đó, cha trở ngược năn nỉ mẹ ưng lấy cha. Năn nỉ riết, mẹ cũng xiêu lòng nhưng giao hẹn: “Lấy tui rồi thì không được lẹo tẹo với mấy đứa xóm trên nghen. Anh mà có gì với tụi nó thì tui chết trước bỏ anh đó”. Cha nghe vậy thì mừng húm vì “mấy đứa xóm trên” đã đi lấy chồng hết trơn rồi.

Vậy là cha mẹ thành vợ thành chồng. Rồi mẹ sinh anh Hai, anh Ba, chị Tư, chị Năm, chị Sáu, con Bảy là tôi và các em Tám, Chín, Mười, Út. Sau này, có những lúc nhà gặp khó khăn, chúng tôi cứ hay cật vấn: “Sao cha mẹ đẻ chi mà nhiều vậy?”. Mẹ cười hiền lành: “Đẻ cho sạch ruột thì thôi chớ có biết gì đâu mà kế hoạch như bây giờ?”.

Cái chuyện cha mẹ đẻ tới 10 đứa con cứ bị chúng tôi đem ra làm đề tài bàn tán mỗi khi có dịp vui vầy. Đứa nào cũng nghĩ, chắc cha mẹ hạnh phúc lắm mới cho ra nhiều con như thế! Mãi sau này, trong một lần anh em tụ tập, anh Hai mới kể lại một câu chuyện mà nghe xong đứa nào cũng ôm bụng cười lăn, cười bò. Chẳng biết anh Hai có thêm thắt hay không nhưng anh cam đoan là “nghe dượng Chín kể sao, anh kể lại i sì...”.

Lần đó mẹ sanh chị Năm được non tháng thì nghe tin cha có vợ bé. Tối tối hai người ngủ với nhau dưới ghe đậu ngoài vàm kinh. Chả là cha tôi buôn trái cây đường dài từ miền Tây lên thành phố, hay chở trái cây đi Sài Gòn bằng ghe mà. Lần đó cha đi 2 ngày thì có người báo cha chưa đi, còn neo ghe ngoài vàm để lên thêm hàng. Họ còn nói, thấy có người phụ nữ thấp thoáng trong mui ghe. Nghe vậy thì mẹ lên cơn ghen. Cái thói thường đàn bà, hễ đụng tới chuyện chồng chung thì đã “ba máu, sáu cơn”, cỡ nào cũng phải bắt tận tay, day tận mặt.

Nửa đêm hôm đó, mẹ mượn chiếc xuồng, bơi ra chỗ cha đậu ghe. Mẹ hành sự êm đến nổi chẳng ai hay biết. Mẹ bò vô mùng rồi mà cha vẫn ngủ say như chết. Bắt gặp tại trận cha với người đàn bà khác, mẹ suýt ngất đi nhưng rồi mẹ bình tĩnh quơ hết quần áo của hai người rồi lia đèn pin vào mặt họ. Khi nhận ra tình thế hiểm nghèo, cha năn nỉ mẹ tha cho và hứa không bao giờ tái phạm. Mẹ chỉ vào mặt cha: “Ông ngồi yên đó, để tui dạy cái đứa dám giựt chồng tui”. Cha sợ thì ít, mà lo mẹ bị lên cơn sản hậu thì nhiều nên ngồi im re.

Mẹ đưa trả quần áo cho người phụ nữ kia, bảo chị ta mặc vào rồi nằm xuống. Chị ta răm rắp làm theo. Mẹ nhịp nhịp cái roi tre thủ sẵn lên mông chị ta: “Nè, cô có biết anh Tám là chồng tui không? Biết hả? Biết sao còn dám rù quến? Đàn ông nào cũng có thói trăng hoa, không ít thì nhiều. Chồng tui không có lỗi. Ảnh mà hư hỏng là tại cô dụ dỗ. Cái thứ đàn bà lăng loàn, hư thân mất nết. Tui đánh cô 20 roi cho cô chừa”. Người phụ nữ kia run lẩy bẩy nhưng không dám trả treo. Còn mẹ tôi thì chỉ nói được vậy rồi... xỉu!

Ấy vậy mà từ đó về sau, cha một lòng, một dạ, không bao giờ dám léng phéng nữa... Thế nên, sau khi mẹ mất, dù đã 10 năm nhưng bữa cơm nào cha cũng xới một chén cơm cho mẹ và rủ rỉ: “Mẹ sắp nhỏ về ăn cơm với tui”. Đã mấy lần chúng tôi bảo cha thôi đừng cúng nữa để mẹ siêu thoát thì cha nhất định không chịu...

Cha ở chơi được một tuần thì anh Hai nhớ ra: “Cha rất thích bánh xèo. Anh em mình dẫn cha đi ăn bánh xèo đi”. Vậy là anh Hai làm chủ xị bữa tiệc bánh xèo ở cái quán nổi tiếng của thành phố. Đến nơi, chúng tôi gọi đủ thứ bánh xèo: hải sản, nấm, thập cẩm, củ hủ dừa... Khi người ta bưng bánh xèo thơm phức, giòn rụm ra, cha ngắt một miếng cho vào miệng rồi lấy đũa vạch cái bánh xèo ra săm soi: “Bánh xèo gì lạ lùng vậy?”. Cha chê bánh mỡ dầu nhiều, nhân bánh “hỏng giống ai”. Đặc biệt, bột bánh vừa bỡ, vừa nhạt, vừa hôi vì cho nhiều bột nghệ được pha chế sẵn...


Chiếc bánh xèo giản dị của mẹ luôn là thứ bánh xèo ngon nhất đối với cha...

Biết cha nhớ bánh xèo mẹ làm nên mấy chị em chúng tôi quyết định phải tự tay đổ bánh xèo cho cha ăn. “Cha có ăn uống bao nhiêu đâu mà làm chi cho cực vậy?”. Tuy cha nói vậy nhưng chúng tôi biết cha rất vui. Tôi ngâm gạo rồi đi mướn người ta xay chớ không làm bằng bột pha sẵn bán ngoài tiệm. Lúc pha bột, cha ngồi kế bên chỉ dạy: cho vào bột nước cốt dừa vừa phải, đậu xanh cà ngâm một đêm cho tróc vỏ rồi đãi sạch nấu mềm, hành hương xắt nhuyễn, lòng đỏ trứng, muối, đường, chút nước nghệ tươi rồi nêm nếm vừa ăn. Nhân bánh thì chỉ có thịt vịt bằm nhuyễn xào vừa ăn, tép bạc, củ sắn, nấm rơm. Riêng món rau ăn kèm thì thật hoành tráng: Anh Hai lùng sục khắp nơi để mang về nào là đọt chiết, đọt xoài, bằng lăng, húng quế, đinh lăng, lá cách; cộng với diếp cá, sà lách, tần ô, rau thơm, húng lủi, cải bẹ xanh... Chị Năm còn cất công đi mượn về cái chảo gang và cái bếp than.

Kể ra như vậy để mọi người thấy là anh em tôi đã chuẩn bị bữa tiệc bánh xèo cho cha chu đáo như thế nào. Tôi lại được tín cẩn giao nhiệm vụ đổ bánh xèo. Trước khi làm thật, tôi đã “xé nháp” cả chục lần để canh sao cho được cái bánh xèo giòn rụm ngoài rìa nhưng phía trong không bị khét, nhân bánh rãi đều để gắp miếng bánh chỗ nào cũng có thịt vịt, có tép, có đậu xanh... Cha ăn được non cái bánh rồi gật gù: “Cũng khá đó con nhưng vẫn chưa bằng mẹ”.

... Ngày cuối cùng trước khi cha về lại quê, anh em chúng tôi họp mặt đầy đủ. Dâu rể, con cháu gần ba chục người, ngồi chật nhà anh Hai. “Cha yếu rồi, không biết có còn lên chơi với con cháu được nữa không. Có điều cha muốn nói với tụi con là, đàn ông hay ham thích của lạ, thích bay nhảy nhưng cuối cùng cũng quay về nhà. Trong gia đình, quan trọng là người đàn bà. Giữ được êm ấm hay đổ vỡ cũng là do người đàn bà. Nói vậy không phải cha bao che cho mấy thằng rể hay anh Hai, anh Ba mà cha muốn nói với con Tư, con Năm, con Sáu, con Bảy, con Tám, con Chín, con Mười là phải rộng lượng, cái gì đáng nói thì nói, không đáng thì bỏ qua. Có như vậy gia đình mới êm ấm”.

Chúng tôi lặng thinh. Cha cũng trầm ngâm hồi lâu rồi cất tiếng: “Nói vậy chớ cha cũng có lỗi với mẹ nên mẹ mới bỏ cha mà đi sớm như vậy”. Nói rồi cha lại rơm rớm nước mắt. Năm nay cha đã tám mươi tư tuổi rồi mà hình như trong tim cha, không có ai ngoài mẹ...
Tuyết Anh

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

Chữa bệnh với rượu tỏi, cơm tỏi…

  • Chữa bệnh với rượu tỏi, cơm tỏi…

SGTT.VN - Tỏi có hàm lượng cao các hợp chất chống oxy hoá như allicin, liallyl sulfide, ajoene... Những hoạt chất này vừa có tác dụng nở mạch, giảm cholesterol xấu, giảm độ dính của máu, giúp phòng chống cao huyết áp, đột quỵ.


Không phải ai cũng dùng tỏi được

Nhiều chuyên gia về tim mạch cho rằng ăn tỏi là biện pháp tự nhiên và đơn giản nhất nếu muốn hạ cholesterol trong máu xuống khoảng từ 10 – 15%, một số người có đáp ứng tốt với tỏi, tỷ lệ này có thể đến 25 – 30%. Bác sĩ Piotrowski ở đại học Geneve (Thuỵ Sĩ) qua nghiên cứu trên 100 bệnh nhân cao huyết áp cho biết huyết áp của họ bắt đầu hạ sau một tuần điều trị với dầu tỏi. Ông cho rằng tỏi hạ huyết áp bằng cách làm nở mạch, qua đó làm giảm các triệu chứng như đau ngực, chóng mặt, nhức đầu. Một nghiên cứu khác của nhóm nhà khoa học Ấn Độ trên những người khoẻ mạnh cho dùng khoảng 2 ounce (khoảng 57g) tỏi, hoặc lượng chất chiết xuất tỏi tương đương, cũng ghi nhận cholesterol giảm trung bình từ 229 xuống còn 213 trong ba giờ đồng hồ. Một báo cáo của các nhà khoa học ở đại học New York (Mỹ) cũng cho biết những người ăn hàng ngày từ một nửa đến một củ tỏi trong từ 8 – 24 tuần có thể hạ cholesterol xuống khoảng 9%. Khảo sát chung về ảnh hưởng của chế độ ăn uống có dùng tỏi đối với bệnh tim mạch đã phổ biến trên tạp chí Science News cho biết thêm, những người hay ăn tỏi giảm được 32% các cơn đau thắt ngực và giảm khoảng 45% nguy cơ tử vong do bệnh tim so với người không ăn tỏi.

Mặc dù có nhiều công dụng tốt cho sức khoẻ nhưng tỏi có tính nóng và tác dụng hành khí mạnh nên có thể gây phản ứng phụ, kể cả tăng huyết áp trong một số trường hợp nếu dùng sai chỉ định. Người đang có thai, người có thể tạng nhiệt, đang nóng sốt, nhiễm trùng chân răng, viêm xoang, nhất là khi dùng rượu tỏi hoặc những viên thuốc tỏi dài ngày, phải rất thận trọng. Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số người. Người sắp phẫu thuật không nên dùng tỏi vì tỏi có thể làm thay đổi tác dụng các thuốc chống đông máu dùng trong giải phẫu. Một số nghiên cứu còn cho biết dùng tỏi có thể gây phản ứng phụ nguy hiểm với người đang điều trị HIV/AIDS. Khi dùng tỏi phối hợp với thuốc, cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị.

Vài cách dùng tỏi làm thuốc

Rượu tỏi giảm mỡ máu, hạ cao huyết áp: dùng 300g tỏi, bóc vỏ và xắt lát mỏng, ngâm trong 600g rượu trắng khoảng 40o. Sau hai tuần, chắt rượu ra dùng. Mỗi ngày hai lần, mỗi lần từ 15 – 20 giọt. Sau khi dùng hai hoặc ba tuần nên theo dõi huyết áp để giảm dần liều xuống đúng liều duy trì. Ngưng dùng rượu tỏi khi có triệu chứng viêm nhiễm cấp tính xảy ra.

Cơm tỏi gạo lức chữa phù thủng, cao huyết áp: lấy một chén gạo lức, một chén đậu xanh cà còn vỏ, từ ba đến năm tép tỏi. Nấu cơm trộn đậu xanh. Khi cơm vừa cạn, trộn đều vào cơm số tép tỏi đã cắt mỏng. Ăn cơm với chuối chín, giảm tối thiểu muối hoặc nước mắm. Ăn liên tục từ 10 – 15 ngày. Đây là phương thuốc hữu hiệu cho nhiều chứng bệnh liên quan đến hội chứng chuyển hoá như béo phì, tiểu đường, tim mạch.

Bài thuốc tỏi, đậu trắng chữa cao huyết áp: dùng 100g tỏi và 100g đậu trắng. Bóc vỏ tỏi, thái mỏng và vo sạch đậu. Nấu nhừ tỏi và đậu với khoảng hai lít nước. Không dùng lò vi sóng để tránh làm giảm hoạt chất của tỏi. Chia làm hai hoặc ba lần, ăn cả cái lẫn nước trong một ngày. Dùng mỗi tháng một lần. Hầu hết các trường hợp đã sử dụng đều biểu hiện giảm huyết áp ngay ngày hôm sau và tiếp tục giảm dần sau đó. Có người dùng cách đổ ba chén nước sắc còn một chén, bỏ xác, uống nước sắc; lập lại ba lần trong ba ngày liên tiếp, cũng thấy có kết quả. Liều lớn của tỏi giúp cải thiện nhanh chóng tình trạng xơ vữa và hạ huyết áp. Đậu trắng giúp tăng cường tác dụng chuyển hoá chất mỡ, điều hoà hấp thu các hoạt chất để giảm bớt tính nóng và một số phản ứng phụ của tỏi khi dùng liều lớn.

Ăn bao nhiêu tỏi là vừa?

Cách dùng tỏi an toàn nhất là dùng như một gia vị kèm theo bữa ăn. Để giảm cao huyết áp, người bệnh cần khoảng 10.000mcg allicin mỗi ngày. Liều này tương đương với bốn tép tỏi cỡ trung bình hoặc 4g tỏi. Cũng nên biết rằng, điều trị cao huyết áp hoặc phòng chống các loại bệnh tim mạch cần phải phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo bão hoà trong các loại thịt động vật và năng vận động, chứ không chỉ dựa vào một bài thuốc nhất định, kể cả tỏi.

Đắp tỏi huyệt dũng tuyền chữa cao huyết áp: dùng từ một đến hai tép tỏi và phần hành lá tương đương. Tỏi lột vỏ, hành lá cắt nhỏ. Giã nát và trộn đều. Trước khi đi ngủ đắp thuốc vào huyệt dũng tuyền ở hai lòng bàn chân. Dùng băng gạc để cố định miếng đắp. Mỗi ngày thay thuốc một lần. Đắp thuốc ban đêm khi ngủ, ngày tháo ra, liên tục từ 3 – 5 lần. Huyệt dũng tuyền ở chỗ lõm giữa lòng bàn chân, tại điểm nối 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn thẳng từ đầu ngón chân thứ hai đến bờ sau gót chân.

Lương y Võ Hà

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Nỗi đau người ở lại...

Mấy hôm nay báo chí đăng rất nhiều bài viết về cái chết của nhà báo Hoàng Hùng...sáng nay có một bài mà mình cho rằng rất hay và xúc động...mình đem lên đây để mọi người cùng đọc và ngẫm nghĩ...
Cái đoạn mình thấy cảm kíck nhất là sự cư xử giữa hai bên sui gia...thật là cảm động....

Mời click vào đường link để đọc:

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2011

Trào lộng cái sự ngoại tình...


Ngã ba lòng! Ngã ba lòng! Ai trong chúng ta cũng có một cái ngã ba lòng! Tự dưng ngồi nhớ cái quảng cáo phim Ngã ba lòng hồi xưa mà thấy mắc cười.

Dạo này đi tới đâu cũng nghe thiên hạ bàn tán chuyện vợ bé vợ lớn. Lên mạng mở trang nào có liên quan đến phụ nữ là thấy nhốn nháo đàn bà đàn ông nói ra nói vô. Ai cũng một trời một biển tâm sự lai láng. Ai cũng cho tình yêu của mình là đích thực, ai nấy kêu gào nhau phải làm thế này thế kia, ai cũng có lý, ai cũng nói hay ... Đến nỗi, nó phải cười ruồi khi đi sắm đồ thực phẩm Tết còn bị dì nọ tra tấn: "mua cái này về ăn em ơi, ngon lắm, chồng theo vợ bé, cho ổng ăn vô một miếng là quay về nhà liền! Bó giò bó cẳng luôn!".

Nó cũng muốn phát biểu một vài cái cảm tưởng thế này. Nói nghe rồi bỏ...

Dựa theo một nghiên cứu khoa học gần đây, nó xin trình bày những ngộ nhận về tình yêu đích thực của một số người mà nó gặp gỡ, quen biết, dây dưa, quan sát, để ý... Đây là ý kiến chủ quan của nó, ai tin thì tin, không tin thì thôi, không có bắt buộc. Nó chỉ nói chung chung vậy đó, không ám chỉ ai, không công kích ai, không dè bỉu ai... Ai có tịch thì rục rịch thôi...

Vợ lớn ở đây là người đoàng hoàng, không phải dân đầu đường xó chợ nha. Vợ lớn chưa bao giờ nghĩ đến khả năng bị vợ bé nào cướp chồng mà chỉ cảm thấy bị tổn thương vì tại sao chồng lại có thể coi trọng người khác hơn người vợ mà chồng đã tự mình lựa chọn. Bao năm ăn ở với nhau, vợ lớn cứ ngỡ rằng mình là lựa chọn đầu tiên và duy nhất. Vợ chồng hạnh phúc đến nỗi chỉ cần chồng nhấc cái mông lên là vợ lớn biết chồng muốn cái gì rồi. Cho nên, từ lúc phát giác chồng âm mưu tạo phản, rất nhiều lần vợ lớn muốn chém muốn giết muốn phá cho hôi cho hả (giận). Nhưng bình tâm lại, vợ lớn tự nhủ mình phải khôn ngoan và tỉnh táo lại, đâu còn có đó mờ. Từ đó, trước mặt bàn dân thiên hạ thì vẫn tỉnh như không nhưng trong lòng sóng gió dữ dội. Vợ lớn thấy chồng vẫn ăn ở ngủ nghỉ tò te với mình đoàng hoàng như ngày nào, nhưng vợ lớn thiệt đau lòng khi thấy chồng mình ngơ ngơ ngu ngu đi vô đi ra thở dài thở vắn nhớ vợ bé. Sau nhiều phen đau lòng như con cuốc cuốc, vợ lớn tự trải nghiệm rằng: gượng ép không có hạnh phúc. Có lúc vợ lớn tự nhủ với lòng, nếu không thể cứu vãn, vợ lớn sẽ giải phóng cho chồng tự do đi lại với vợ bé, chứ để họ lén lút, vụng trộm, rón rén vậy hoài cũng tội... coi như của đi thay người, còn giữ được cái mạng cùi này là may lắm rồi... Đọc đến đây có người phì cười, nếu làm được điều đó, vợ lớn là thánh chứ đâu phải là người hen... Vậy mà có đó, thiếu gì...

Nhưng yêu là muốn thấy người mình yêu hạnh phúc. Vậy tình yêu của vợ lớn có phải là tình yêu đích thực hôn!?

Vợ bé ở đây cũng là người đoàng hoàng, không phải dân cà chớn cà cháo nha. Vợ bé chưa bao giờ nghĩ đến khả năng mình là vợ bé đi cướp chồng người ta. Vợ bé ngây thơ trong sáng nghĩ rằng: chỉ có mình mới đem lại niềm vui (thú) và hạnh phúc cho anh ấy. Vợ bé đinh ninh mình chẳng muốn cướp mất chồng con của người ta. Vợ bé chủ quan cho rằng anh ấy yêu mình bằng tình yêu đích thực nên cam tâm yêu mãi mãi và đi bên lề cuộc đời của anh mãi mãi. Xã hội lên án, người thân đau xót, bản thân rón rén rụt rè... cũng mặc, anh ấy yêu mình bằng tình yêu đích thực, chỉ cần mình tin anh ấy hết lòng hết sức hết trí khôn là được... Vợ bé cứ mãi ru ngủ mình và tôn thờ tình yêu hết sức tròn đầy đó trong vô vọng, trong lúc vợ chồng nhà người ta vẫn ăn ngủ với nhau đều đều... Thiệt là tội nghiệp vợ bé!

Vậy tình yêu của vợ bé có thật là tình yêu đích thực hôn?

Người chồng ở đây cũng là người đoàng hoàng, không phải người bất trung bất nghĩa nha. Người chồng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện mình phụ nghĩa tào khang đâu. Biết sai muốn sửa mà sửa hoài không sửa nổi nên riết rồi để cho lương tâm bị chó cắn, biết sai vẫn phạm hoài hoài luôn. Và cũng từ dạo ấy, người chồng trở thành một đứa trẻ to xác và bướng bỉnh. Cho khổ cái thân mình. Cho vợ lớn vợ bé đau lòng như con cuốc cuốc. Để bớt khổ, bớt đau, để dối lòng mình..., cho nên, người chồng luôn tự bào chữa rằng, chuyện gì đến thì nó đến. Cho nên, người chồng cam chắc tình yêu tìm thấy mới đây nhất, sau cùng nhất, trinh nguyên nhất mới là tình yêu đích thực. Cho nên, người chồng đinh ninh trăm phần trăm cái tình xưa nghĩa cũ, cái lúc phu thê giao bái với bao nhiêu ngày ân ái mặn nồng... chắc tất cả đều là do mình hồi xưa nhất thời bồng bột, chắc chắn đó không phải là tình yêu đích thực đâu! Dù hồi xưa, lúc nào người chồng cũng cho là chồng với vợ có duyên từ kiếp trước, là trời sanh một cặp, bên nhau mãi mãi không rời cho đến lúc đầu long răng rụng thôi. Bởi vậy mới nói, đàn ông mà dính vô tứ đổ tường thì đi dễ khó về, "lúc đi trai tráng, khi về bủng beo" là vậy...

Người chồng có ngon thì thử ba tháng không gặp cả vợ lớn lẫn vợ bé, tối tối nằm trên giường, nhắm mắt lại, cởi đồ ra, nằm gác chân lên trán, suy nghĩ thử coi tình yêu của mình với bà nào mới là tình yêu đích thực?

Thật ra nghĩ cho kỹ, mỗi người chỉ có hai chữ để suy ngẫm thôi nè:

-Người chồng: rất hèn

dám làm (bậy) không dám nhận (mình bậy)

-Vợ bé: hơi hèn

dám nhận (mình bậy) không dám làm (cái gì cho hết bậy)

-Vợ lớn: quá hèn

không dám nhận (chồng bậy) cũng không dám làm (cái gì bậy bậy với chồng và vợ bé)

Thật ra mỗi người chỉ cần động não một tí, giữa thời buổi loạn lạc này, nếu phải ăn ở với nhau, đối bằng "tâm" sống có "tầm" là thiên hạ thái bình rồi. Đâu cần ai phải xử ép, xử ác, xử tệ với ai đâu...

Thật ra cũng chưa biết cái nào là tình yêu đích thực, chưa chắc ai thành thật hơn ai, ai sung sướng hơn ai, ai khổ sở hơn ai? Kết thúc câu chuyện là một câu hỏi bỏ ngỏ... Rồi ba con người hết sức đoàng hoàng đáng yêu đó, họ sẽ ra sao ngày sau? Ai sẽ nuốt nước mắt nước miếng ra đi? Ai sẽ cam lòng đứng lại... để một người đi với một người... một người lặng lẽ buồn thiu đứng nhìn!?!?

Đó mãi mãi là một câu hỏi thiên thu bất khuất...

Tết nhất tới nơi rồi, cẩn thận củi lửa ai ơi!

Melissa_Cao

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

Cuộc chiến : Bố vợ và...Con rể....

Hôm nay mình mở thêm mục : Những bài báo hay....mục này sẽ ghi lại những bài báo viết thật sinh động ...thật hay và ...thật vui...mà mình sưu tầm được...Và đây là bài viết hay đầu tiên...

Cuộc chiến: Bố vợ và...Con rể....

Một cái đầu triết học, một bộ não chằng chịt nếp nhăn - đó là những gì khiến người ta dễ hình dung nhất về Trọng, một tiến sĩ triết học đầy tâm huyết.


Mọi việc sẽ trở nên tốt hơn nếu anh không quá vụng về trong cuộc sống khi kết hôn với con gái của một ông thầy cúng đã có thâm niên trong nghề.

Mỗi lần con rể, bố vợ gặp nhau, ối người lại được một phen đứng tim vì lo xảy ra án mạng. Lần đầu tiên giáp mặt bố vợ tương lai, Trọng đã thấy gương mặt ông có điều gì ma quái. Đôi mắt lúc nào cũng lim dim như đang lên đồng, những nếp nhăn vần vũ trên mặt lúc thì như một lá bùa chi chít chữ Hán, lúc thì như những que nhang đang bốc khói nghi ngút khiến anh bất giác rùng mình.

Trọng đã muốn đánh bài chuồn ngay lúc đó nhưng nhìn sang bên, thấy người trong mộng miệng cười chúm chím, dung nhan yêu kiều, sóng tình trong anh lại dâng lên cuồn cuộn, áp đảo mọi cảm xúc khác. Thế là bỗng dưng nhà triết học có một ông bố vợ thầy cúng.

Hai con người đó ít khi gặp nhau. Người thì nói như thế là may cho họ vì sẽ tránh được những cuộc xung đột không nên có, người lại bảo như vậy không tốt vì họ sẽ không có điều kiện để hiểu nhau.

Một người hễ mở mồm ra là đầy những duy vật biện chứng, vật chất, ý thức, phạm trù nọ phạm trù kia. Một người lại không thể không bắt đầu câu chuyện bằng “Tí sửu dần mão thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất hợi”. Nhưng cuối cùng họ vẫn có cơ hội để choảng nhau.

Sáng mùng 2 Tết, vợ chồng Trọng đánh xe từ thành phố về chúc Tết bố mẹ vợ. Lúc ấy, ông Thành, bố vợ của Trọng đang chắp tay lầm rầm khấn vái trong nhà, Trọng vừa vào đến ngưỡng cửa thì vô tình đánh rơi một cái “trung tiện” làm kinh động không khí thanh khiết của buổi sáng đầu năm. Coi đó là một hành động cố tình vô liêm sỉ, một sự xúc phạm không thể dung tha, ông Thành dùng luôn cây mía dựng bên cạnh ban thờ để dạy dỗ thằng con rể. Vô lễ.

Bị đánh đau, Trọng bỏ chạy thục mạng. Ông Thành vừa cầm gậy mía đuổi theo sau vừa quát: “Thằng duy vật láo toét, ông đánh mày! Thằng duy vật láo toét...”.

Mải đuổi nhau, hai người không biết mình đã chạy ra đến tận bờ sông. Cũng lúc này, không ai còn đủ sức để chạy tiếp. Họ ngồi vật xuống đất, cởi tung áo khoác ra mà thở.

Giữa trời đông giá rét, hai người đàn ông, một già một trẻ, mồ hôi nhễ nhại ngồi phanh ngực giữa gió trời lồng lộng, khiến không ít kẻ đi qua phải tò mò ngoảnh cổ lại nhìn cho rõ.

“Con xin lỗi. Nhưng mà con xin thề là con không cố ý. Đấy chỉ là một “tai nạn” ngoài ý muốn”. Trọng vừa thở phì phò vừa cố gắng thanh minh.

Ông Thành vẩu mỏ nguýt một tiếng dài: “Anh cũng biết xin lỗi cơ đấy! Dẹp quách cái trò khổ nhục kế vớ vẩn của anh ngay đi cho tôi nhờ”.

Nghe bố vợ nói mình dùng khổ nhục kế, Trọng buồn cười quá mà không dám cười, sợ lại bị ông choảng cho mấy gậy nữa. Không hiểu sao anh chợt nghĩ ra cách làm hòa: “Bố xem tuổi con với tuổi bố có xung khắc gì không mà sao bố cứ hay nghi kỵ con thế?”

Bố vợ Trọng hếch mặt đón gió, bấm bấm đầu ngón tay miệng lẩm bẩm: “Dần thân tị hợi tứ hành xung. Tôi với anh không thể gần nhau, hiểu chưa?”.

Trọng cười thầm mấy cái trò: “Tí tủm dần sàng” của bố vợ nhưng cái đầu triết học kia cho anh biết muốn chứng minh ông ta sai thì chỉ còn cách chung sống hòa bình với ông bố vợ nằm trong tứ hành xung với mình.

Trọng coi đó là một đề tài khoa học quan trọng cần chứng minh. Một mũi tên trúng hai đích, vừa vì khoa học vừa vì hạnh phúc gia đình.

Anh thỏ thẻ: “Thế có cách nào hóa giải xung khắc đó không bố? Bố là tài giải hạn lắm cơ mà! Con cõng bố về rồi bố giúp con nhé!” Nói rồi chẳng cần chờ xem ông gật hay lắc, Trọng xốc bố lên lưng cõng về.

Vừa lúc ấy, “hai bà vợ” mới tìm được đến nơi, thấy cảnh con rể cõng bố vợ trên lưng thân mật chưa từng có thì nhìn nhau ngơ ngác, chẳng hiểu chuyện quái quỷ gì vừa diễn ra.

Về nhà, ông Thành làm lễ giải hạn giải xung thật. Tất nhiên, ông sẽ phải cố mà yêu con rể để chứng minh phép thuật của mình cao siêu. Còn Trọng cũng phải cố chiều bố vợ để chứng minh “tứ hành xung” chỉ là điều vớ vẩn.

Chẳng biết ai đúng ai sai nhưng cuộc chiến bố vợ, con rể chấm dứt vì mỗi người biết điểm dừng đúng lúc.

Theo Hoàng Ngư (Phụ Nữ VN